Món ăn chế biến từ cá luôn hấp dẫn và bổ dưỡng
Phát triển nuôi cá nước ngọt và xu hướng tiêu dùngNhững năm gần đây, nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo, nghề nuôi cá nước ngọt đang phát triển mạnh ở tất cả tỉnh thành. Ninh Bình đã chuyển đổi được 34% diện tích ruộng trũng nuôi trồng thủy sản, Hà Tĩnh mở rộng diện tích lên 325 ha chủ yếu cho cá nước ngọt. Sóc Trăng phê duyệt quy hoạch lên 2.100 ha nuôi năm 2010 và kế hoạch 4.000 ha năm 2020… Phong trào nuôi cá nước ngọt phát triển mạnh thể hiện ở các lớp học khuyến ngư tại chỗ, hội thảo đầu bờ, nhiều mô hình nuôi mới... Sản phẩm cá tra, basa Việt Nam sau những thăng trầm trên thị trường, đang dần giữ uy tín tại Ai Cập, Anh… và thắng thế trong cạnh tranh với cá da trơn Mỹ, châu Âu.
Sức tiêu thụ cá ít biến động so với sản phẩm thịt heo và các loại gia cầm. So với các loại thực phẩm động vật khác, cá là thức ăn ít độc hại, dễ hấp thụ, giá cả hợp lí. Người tiêu dùng ngày càng hướng tới các sản phẩm giàu protein, ít chất béo. Thủy sản nói chung là thực phẩm giàu vitamin, khoáng chất, ít hàm lượng chất béo. Cá nước ngọt thường là loài nuôi truyền thống, ít hàm lượng độc tố. Trong khi thịt gia cầm bị đe dọa bởi dịch cúm, thịt heo bị lo ngại vì bệnh tai xanh, thì người tiêu dùng an tâm hơn với sản phẩm từ cá.
Ngoài nuôi cá tra, basa thương mại, các loài cá nước ngọt khác vẫn nhằm mục đích chính là tiêu thụ nội địa, phục vụ khu vực vùng miền. Sự phát triển mạnh nghề nuôi cá nước ngọt hiện nay tạo thuận lợi cho các bà nội trợ hướng tới các sản phẩm dinh dưỡng an toàn, tươi sống, truyền thống với nguồn cung dồi dào.
Thức ăn ngon, dược phẩm quýNgoài cách chế biến các món ăn truyền thống, cung cấp dinh dưỡng cơ bản, cá nước ngọt còn có thể chế biến thành các bài thuốc đông y.
Cá tra, basa: hàm lượng dinh dưỡng cao (1.245 calo/1kg cá tra, 1.700 calo/1kg cá basa) và giàu Omega-3. Ăn cá tra, basa bổ cho não, tốt cho quá trình hình thành phát triển não bộ trẻ em.
Cá lóc: hay còn gọi cá chuối, cá quả, cá tràu, cá sộp. Đặc tính thịt cá lóc ít mỡ, vị ngọt, không độc, giàu khoáng và vitamin, có tác dụng bổ khí huyết, trừ đờm. Cá lóc nấu canh giúp giải nhiệt, phù thũng, an thần…
Cá chép: là thức ăn quý, bổ tỳ vị, thông sữa, an thai, tốt cho phụ nữ mang thai, cho con bú, phục hồi sức khỏe cho người ốm yếu. Thịt cá chép chứa nhiều axit lutamic, glycine, chất béo. Cá chép nấu cháo gạo nếp có tác dụng an thai và thông sữa.
Cá rô: (tên gọi chữ Hán là quyết ngư hay kế ngư): hiện nay nhiều hộ nông dân phát triển nuôi cá rô phi và cá rô lai. Cá rô có nhiều xương nhưng thịt cá thơm, vị ngọt, tính bình, ít mỡ. Trong cá rô chứa nhiều Calcium (116,5 mg/100 g thịt cá), các loại vitamin (B12, B6), chất đạm (23,0mg/100g thịt ). Cá rô giúp bổ xương, giàu đạm.
Cá chạch: sống ở tầng đáy, thịt ngọt, tính bình có tác dụng với bệnh đái tháo đường, liệt dương, viêm gan, mụn nhọt.
Cá diếc (hay gọi là tức ngư): thịt cá có vị ngọt, tính ấm, không độc. Cá diếc có thể chữa kiết lị, phù ở trẻ em bằng cách tán phèn chua với thịt cá, đốt tồn tính, tán mịn và uống. Canh cá diếc, kho cá diếc là món ăn bổ huyết, làm đẹp da.
Cá trắm (tên chữ Hán là thanh ngư): thịt cá trắm có tính ôn, bổ tỳ, khí huyết. Món ăn từ thịt cá trắm giúp tăng sức khỏe, tăng sức đề kháng, chữa cảm nắng nóng, tốt cho người đau dạ dày, suy nhược.