Kho, theo Đại Nam Quốc âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của, in từ năm 1895, nghĩa là "Nấu cá thịt, nêm mắm muối cho mân mẫn, có ý để mà ăn lâu ngày".
Theo định nghĩa xưa ấy, kho có thể dùng mắm hoặc muối, không phải thật mặn, mặn ở mức vừa phải. Ta nghe các bà nội trợ phân biệt kho khô, kho lạt, kho quẹt, kho sền sệt.
Thời xưa chưa xuất hiện đồ hộp. Kho khô là kiểu để dành lâu ngày, không hư, không biến chất, thậm chí cá kho, thịt kho để nguội từ hôm trước, hôm sau đem ra ăn cũng không hại. Ở đồng bằng món kho ngon nhất vẫn là cá lóc, cá rô kho. Miền biển, còn có cá mòi, cá thu kho, ăn lâu ngày. Món đơn giản, đòi hỏi kỹ thuật tay nghề, thậm chí đòi hỏi năng khiếu. Lựa cá rô to con, mập béo vào cuối mùa mưa (gọi cá rô mề), đánh vẩy, mổ bụng ướp tỏi, nước mắm thật ngon, đặt lên bếp than. Rồi thì tiêu, hành. Nghe đâu người trong nghề nấu nướng dùng nước cơm thêm vào (nước cơm sôi, chắt ra). Hành muốn tỏa hơi thơm thì nên nướng lên than đỏ, sau đó xắt ra.
Cá ngon nhất của đồng ruộng, kho với nước mắm biển ngon nhất, thêm thật nhiều tiêu. Nước mắm ngon sẽ tạo ra mùi hấp dẫn người đứng xa vài mươi thước phải thèm, nhớ... cố hương! Ăn với dưa cải chua, dưa món, giá chua. Ngày Tết thiếu món cá kho, thịt kho thì chẳng ra ngày Tết, dịp dùng món ăn cổ truyền, định hình dể nhớ lại cội nguồn.
Thịt kho ngày nay được vô hộp, ăn khá ngon. Vào hiệu ăn Việt Nam ở nước ngoài, người Âu vẫn thích món thịt heo kho, họ gọi đó là thịt heo kho với đường cháy, ngụ ý thêm hương vị nhờ nước màu, đường thắng ra, với màu vàng sậm, thơm tho.